Một số điểm mới của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025
Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV đã
thông qua Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (Luật số
128/2025/QH15), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đây là quy định có ý
nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm hiệu quả thi hành các biện pháp ngăn chặn, đồng
thời nâng cao mức độ bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư
pháp.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi
nơi cư trú năm 2025 có một số điểm mới sau:
Thứ nhất,mở rộng phạm vi điều chỉnh,
bổ sung quy định về thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, gồm gửi
lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và phổ biến quyền, nghĩa vụ cho người bị cấm đi khỏi
nơi cư trú; thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy
ban nhân dân cấp xã, đơn vị Quân đội được giao quản lý, theo dõi người bị cấm
đi khỏi nơi cư trú; quyền và nghĩa vụ của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; giải
quyết vắng mặt tại nơi cư trú; giải quyết trong trường hợp thay đổi nơi cư trú,
nơi làm việc, lao động hoặc học tập; xử lý trường hợp người bị cấm đi khỏi nơi
cư trú vi phạm nghĩa vụ.
Một trong những điểm mới mang tính nền
tảng của Luật là việc mở rộng phạm vi điều chỉnh. Nếu như Luật Thi hành tạm giữ,
tạm giam năm 2015 chỉ điều chỉnh việc thi hành tạm giữ, tạm giam thì năm 2025,
các nhà làm luật đã bổ sung thêm về quy định thi hành biện pháp ngăn chặn cấm
đi khỏi nơi cư trú. Sự thay đổi này không chỉ đơn thuần là bổ sung về kỹ thuật
lập pháp mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt thực tiễn, khi lần đầu tiên toàn bộ
các biện pháp ngăn chặn quan trọng trong tố tụng hình sự được đặt trong cùng một
khuôn khổ pháp lý về thi hành.
Việc bổ sung nội dung này đã khắc phục
khoảng trống pháp lý tồn tại trong thời gian dài. Trước đây, việc thi hành biện
pháp cấm đi khỏi nơi cư trú chủ yếu dựa vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
và các văn bản hướng dẫn, chưa có một đạo luật chuyên biệt điều chỉnh. Điều này
dẫn đến sự lúng túng trong tổ chức thực hiện, đặc biệt ở cấp cơ sở, nơi trực tiếp
quản lý, giám sát người bị áp dụng biện pháp. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam
và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 đã thiết lập đầy đủ cơ chế từ việc ban hành,
tổ chức thi hành, đến việc quản lý, theo dõi, xử lý vi phạm, qua đó nâng cao hiệu
quả áp dụng biện pháp này trong thực tiễn.
Thứ hai,bổ sung một số quy định về
chuyển giao người bị bắt theo quyết định truy nã cho cơ quan đã ra quyết định
truy nã; khi có quyết định dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền; quy định về điều
chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam; trích xuất phục vụ công tác giam giữ,
tham gia thực hiện giao dịch dân sự.
Thứ ba,hoàn thiện các quy định liên
quan đến hệ thống tổ chức cơ quan quản lý, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam
và cấm đi khỏi nơi cư trú theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tại Điều 8, Điều 9 của
Luật, quy định hệ thống cơ quan theo hướng không tổ chức cơ quan quản lý, cơ
quan thi hành tạm giữ, tạm giam ở cấp huyện như trước đây; đồng thời, Luật bổ
sung Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển là cơ quan quản lý thi hành tạm giữ, tạm
giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; Buồng tạm giữ của Cảnh sát biển, buồng tạm giữ
của Công an đặc khu là cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam; Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị Quân đội là đơn vị được giao một số nhiệm vụ thi
hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; giao Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng quy định cụ thể về hệ thống tổ chức các cơ quan này. Việc
bổ sung, sửa đổi các quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định của Luật, thống nhất
với luật khác, tăng cường phân cấp, phân quyền, giải quyết những tồn tại, khó
khăn trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu công tác trong thời gian tới;
nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát người bị tạm giữ, người bị tạm
giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.
Thứ tư,sửa đổi, bổ sung các quy định
về quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam đã hoàn thiện toàn diện các quy
định từ khâu tiếp nhận, phân loại và quản lý trong suốt quá trình thi hành.
Điều 14 quy định rõ trách nhiệm của
cơ sở giam giữ trong việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, khám sức khỏe, lập hồ sơ
quản lý. Việc quy định thời hạn thời hạn và trình tự thực hiện các công việc
giúp bảo đảm tính minh bạch, chính xác ngay từ khâu đầu tiên, hạn chế sai sót
và khiếu nại phát sinh. Đồng thời, tại Điều 16 đã bổ sung “Việc giam giữ chung
người dưới 18 tuổi với người từ đủ 18 tuổi trở lên chỉ trong trường hợp để bảo
đảm an toàn cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi” nhằm
đảm bảo vệ người dưới 18 tuổi theo đúng chuẩn mực quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích tốt
nhất cho người chưa thành niên. Đồng thời, để bảo vệ nhóm yếu thế, điểm a khoản
4 Điều 16 Luật đã bổ sung chủ thể sau có thể được bố trí giam giữ ở buồng riêng
gồm “trường hợp vì lý do giới tính khác” bên cạnh nhóm chủ thể “người đồng
tính, người chuyển giới”. Đặc biệt, tại điểm b khoản 2 Điều 14, Luật bổ sung
quyền của cơ sở giam giữ thu thập sinh trắc học gồm mống mắt, ADN, giọng nói đối
với người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong trường hợp chưa có thông tin
trong Cơ sở dữ liệu căn cước. Tạo cơ sở
pháp lý cho việc hiện đại hóa công tác quản lý, nâng cao hiệu quả và độ chính
xác trong xác định nhân thân.
Thứ năm,hoàn thiện chế độ, chính sách
thăm gặp của người bị tạm giữ, người bị tam giam tại Điều 22; bổ sung giải quyết
trường hợp con của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo mẹ vào cơ sở giam
giữ chết tại Điều 26.
Điều 22 của Luật quy định việc thăm gặp
của người bị tạm giữ, người bị tạm giam không chỉ dành cho người thân thích,
người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự mà mở rộng việc “tiếp xúc với tổ chức nhân đạo”.
Đây là một nội dung có ý nghĩa thiết thực, góp phần bảo đảm quyền con người
trong điều kiện bị hạn chế tự do. Đặc biệt, Luật quy định rõ các trường hợp
không giải quyết tiếp xúc lãnh sự, tiếp xúc với tổ chức nhân đại tại khoản 6 Điều
22.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm
đi khỏi nơi cư trú năm 2025 đã đặt ra một chuẩn mực cao hơn: không chỉ yêu cầu
quản lý chặt chẽ mà còn đòi hỏi việc thực thi pháp luật phải chuẩn mực, minh bạch
và tạo nền tảng pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư
pháp.
Nguồn: Khoa Luật - Học viện an
ninh nhân dân.
Thực hiện: Xuân Phương –
Chuyên viên VP.HĐND&UBND phường