Một số điểm mới của Luật Hộ tịch năm 2026 so với Luật Hộ tịch năm 2014
Luật Hộ tịch số 03/2026/QH16 được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua
ngày 23 tháng 4 năm 2026. Theo đó, Luật Hộ tịch năm 2026 tập trung quy định về
đăng ký hộ tịch, xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, trách nhiệm
quản lý nhà nước cũng như cơ chế khai thác, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan có
liên quan. Tinh thần xuyên suốt của đạo luật là hiện đại hóa công tác quản lý hộ
tịch, tăng cường liên thông dữ liệu, giảm thiểu giấy tờ và tạo thuận lợi tối đa
cho người dân trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
Một trong những
điểm mới của Luật lần này là việc thúc đẩy số hóa toàn diện quy trình đăng ký hộ
tịch, hướng tới xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thống nhất trên
phạm vi toàn quốc. Điều này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
mà còn giúp người dân tiếp cận các dịch vụ công nhanh chóng, minh bạch và thuận
tiện hơn.
So với Luật Hộ
tịch năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2026 được tinh gọn đáng kể, gồm 4 chương, 30 điều
(giảm 3 chương và 47 điều), đồng thời bổ sung nhiều quy định mới mang tính thực
tiễn cao, như:
(1) Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch (Điều
8 Luật Hộ tịch năm 2026)
- Đăng ký tại
Ủy ban nhân dân cấp xã không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân đăng ký các sự
kiện, thông tin hộ tịch quy định tại Điều 4 của Luật này.
- Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ký giấy tờ hộ tịch. Căn cứ tình hình thực tế
tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được ủy quyền ký giấy tờ hộ tịch
theo quy định, trừ các loại giấy tờ hộ tịch
sau đây: Giấy khai sinh; Giấy chứng nhận kết hôn; Giấy tờ hộ tịch trong trường
hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.
- Bổ sung thẩm
quyền đăng ký giám sát việc giám hộ, chấm dứt giám hộ việc giám hộ liên quan đến
quản lý tài sản của người được giám hộ (Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2026).
(2) Về quyền,
nghĩa vụ đăng ký hộ tịch (Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2026)
Bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của công
dân Việt Nam, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại
Việt Nam, người không quốc tịch, người nước ngoài có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ
tịch theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
(3) Về trách
nhiệm của cơ quan đăng ký hộ tịch (Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2026)
Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm
chủ động khai thác dữ liệu điện tử, tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu liên
quan, phù hợp với mức độ đáp ứng của cơ sở dữ liệu; không yêu cầu nộp, xuất
trình hoặc tải lên giấy tờ là thành phần hồ sơ, trừ trường hợp không khai thác
được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.
(4) Giá trị
pháp lý của giấy tờ hộ tịch (Điều 9 Luật Hộ tịch năm 2026)
Dữ liệu hộ tịch điện tử gồm bản điện
tử giấy tờ hộ tịch, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch đáp ứng các quy định của
pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị như giấy tờ hộ tịch bản giấy khi thực
hiện thủ tục hành chính và các giao dịch khác
(5). Phương
thức yêu cầu, trả kết quả đăng ký hộ tịch (Điều 10 Luật Hộ tịch năm 2026)
- Người yêu cầu
đăng ký hộ tịch có quyền lựa chọn nộp hồ sơ trực tuyến hoặc gửi hồ sơ qua dịch
vụ bưu chính hoặc nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch, cơ quan quản
lý hộ tịch có thẩm quyền.
- Thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký
kết hôn, đăng ký khai tử được trả kết quả là bản giấy và bản điện tử. Thủ tục
đăng ký hộ tịch khác được trả kết quả là bản điện tử; kết quả là bản giấy chỉ
trả khi người đăng ký hộ tịch có yêu cầu.
- Người yêu cầu
đăng ký hộ tịch có quyền lựa chọn nhận kết quả là bản giấy qua dịch vụ bưu
chính hoặc trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch, cơ quan quản lý hộ tịch, trừ
trường hợp đăng ký kết hôn thì nhận trực tiếp Giấy chứng nhận kết hôn tại cơ
quan đăng ký hộ tịch.
Luật này có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027./.
Nguồn: Cổng thông
tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Cần Thơ.
Thực hiện: Xuân Phương –
Chuyên viên Văn phòng HĐND&UBND phường Bình Thủy.